29/11/2013

Đái tháo đường trở thành đại dịch tại Việt Nam

Với số người được chẩn đoán đái tháo đường tăng 211% trong 10 năm đã khiến Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng nhanh nhất về số bệnh nhân trên toàn thế giới.
Thông tin được đưa ra tại buổi tọa đàm chung tay kiểm soát bệnh đái tháo đường do Đại sứ quán Đan Mạch phối hợp với Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam tổ chức ngày 28/11 tại Hà Nội.

Theo các chuyên gia, đái tháo đường đã được đẩy lên ở mức độ đại dịch khắp Việt Nam với 5 triệu người mắc và con số này không ngừng gia tăng. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức như: thiếu hụt về số lượng bác sĩ điều trị, mức độ nhận thức thấp về bệnh; hạn chế và thiếu thốn về cơ sở vật chất... Đây là nguyên nhân chính dẫn đến thực tế hơn 60% trong 5 triệu người mắc bệnh không được chẩn đoán sớm.

tieuduong1-2877-1385636120.jpg

Tại Việt Nam, đa số người được chẩn đoán bị đái tháo đường khi đã có biến chứng

Bên cạnh đó, cứ 10 người được chẩn đoán bệnh thì 6 đã bị biến chứng. Đa số bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị dù đã được chẩn đoán.

Trước đây, tiểu đường thường được coi là bệnh của nhà giàu nhưng hiện giờ đã ảnh hưởng đến mọi tầng lớp xã hội và các nhóm tuổi. Rất nhiều trong số bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam không có khả năng chi trả chi phí khám, chữa bệnh cần thiết dẫn đến việc không đạt được mục tiêu điều trị.

Nguyên nhân của tình trạng này theo tiến sĩ Nguyễn Thy Khuê, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam là sự chuyển đổi nhanh chóng sang lối sống Tây hóa cũng như sự coi nhẹ các hoạt động thể chất và chế độ ăn không hợp lý.

Bên cạnh đó, tiến sĩ Khuê khuyến cáo về thực trạng trẻ hóa người mắc bệnh, thậm chí có trẻ 8-9 tuổi đã bị đái tháo đường. Nguyên nhân là kinh tế thay đổi nhiều, gia đình ngày nay ít con hơn nên trẻ nhận được nhiều sự chăm sóc, hậu quả là tỷ lệ trẻ béo phì ngày càng nhiều. Trẻ con ngày nay cũng ít vận động, ngồi máy tính, chơi game, xem ti nhiều thay cho các trò chơi vận động trước kia. Đặc biệt hiện nay ngày càng có nhiều bạn trẻ hút thuốc lá, yếu tố liên quan chặt chẽ đến tình trạng đề kháng insulin.

"Để ngừa bệnh thì việc thay đổi lối sống là rất quan trọng. Thực tế, 70% người trưởng thành nhận thức được sự nguy hiểm của bệnh, nhưng từ ý thức đến thực hành không dễ vì lứa tuổi thanh thiếu niên dễ bị lôi kéo. Trong khi chỉ 30 phút tập thể dục mỗi ngày giảm 40% nguy cơ mắc bệnh", tiến sĩ Khuê nói.

23/11/2013

Trị mất ngủ hiệu quả bằng thảo dược 100% nguyên chất

Người trưởng thành trung bình cần ngủ từ 6-8 giờ/ ngày. Một giấc ngủ tốt cần ngon, sâu và theo đúng nhịp sinh học. Rối loạn giấc ngủ là chứng bệnh thường gặp ở mọi  lứa tuổi.

Một số dạng rối loạn giấc ngủ:

-    Mất ngủ: mất ngủ là trạng thái không thoải mái về số lượng hoặc chất lượng giấc ngủ. Người bệnh có thể phàn nàn rằng khó đi vào giấc ngủ, hoặc khó giữ giấc ngủ. Mất ngủ có thể thoáng qua hoặc bền vững và thường đi kèm với rối loạn lo âu.

http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2013/best_2131733279-1-1902-mtng-060b3.jpeg

-    Ngủ nhiều: ngủ nhiều ngược lại với mất ngủ. Nhiều bệnh nhân than phiền mình luôn buồn ngủ, thậm chí họ có thể rơi vào trạng thái ngủ trong khi đi. Ngủ nhiều thường là 9-10 giờ một đêm.

-    Cận giấc ngủ: cận giấc ngủ là hiện tượng không phổ biến, xuất hiện đột ngột trong khi ngủ hoặc xảy ra giữa trạng thái thức và ngủ. Nếu xuất hiện trong giấc ngủ, cận giấc ngủ thường xảy ra ở giai đoạn 3 và 4 của nhịp giấc ngủ. Cận giấc ngủ bao gồm ác mộng, rối loạn hoảng sợ, miên hành và các rối loạn cận giấc ngủ không biệt định khác.

-    Rối loạn thời gian giấc ngủ: triệu chứng phổ biến nhất là không thể ngủ được khi người bệnh muốn ngủ, mặc dù họ có thể ngủ được vào lúc khác. Mặt khác, họ không hoàn toàn tỉnh táo khi cần tỉnh táo, nhưng họ cũng rất tỉnh táo vào lúc khác khi họ không cần tỉnh táo.

Hậu quả của rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ kéo dài (đặc biệt mất ngủ) gây hoảng loạn, tăng nguy cơ biến chứng thành các bệnh thực thể như thoái hóa xương, đau nhức dây thần kinh, tổn thương chức năng điều tiết não bộ, gây viêm loét dạ dày, rối loạn thần kinh thực vật, hội chứng đại tràng kích thích, chán ăn, gày rộc đi, hạ huyết áp,…

Ở một số trường hợp, tình trạng này còn dẫn đến rối loạn tim mạch, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hồi hộp lo sợ, béo phì, thậm chí mắc đái tháo đường...

Nguyên nhân

-    Do lối sống, môi trường và tâm lý: áp lực cuộc sống và công việc hằng ngày, gặp biến cố, thói quen ăn uống, lạm dụng chất kích thích, tâm lý sợ mất ngủ…

-    Do bệnh lý: viêm xoang, đau đầu, viêm loét dạ dày tá tràng, bệnh khớp xương,bệnh về tiết niệu, trầm cảm, tâm thần phân liệt…Tác dụng phụ của một số loại thuốc trị bệnh cũng gây ra chứng mất ngủ.

Phòng và trị bệnh

Đa số người bệnh khi gặp phải triệu chứng mất ngủ đều tìm đến các loại thuốc ngủ. Phương pháp này có thể cải thiện ngay lập tức giấc ngủ nhưng về lâu dài sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc, phụ thuộc vào thuốc và những tổn thương cho hệ thần kinh, có thể gây trầm cảm.

Điều trị mất ngủ chủ yếu là điều trị triệu chứng, kết hợp với điều trị nguyên nhân gây mất ngủ. Vấn đề chẩn đoán xác định cũng như chỉ định điều trị nên theo ý kiến của thầy thuốc.

Nguyên tắc điều trị:

-    Loại bỏ những nguyên nhân chủ quan gây mất ngủ.

-    Nên tạo tâm trạng thư thái để dễ dàng đi vào giấc ngủ, giường ngủ cần đặt nơi thoáng mát, chăn màn sạch sẽ,...

-    Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, khoảng từ 30-40 phút một ngày, mỗi tuần khoảng 3-4 lần sẽ giúp ngủ tốt hơn.

-    Nếu không ngủ được sau 30 phút thì nên ra khỏi giường và đọc sách hoặc làm một việc gì đó cho đến khi buồn ngủ.

-    Sử dụng thảo dược thay thế cho thuốc ngủ do thảo dược an toàn, không gây tác dụng phụ, không gây nghiện.

Trị mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hiệu quả bằng Thảo dược NAVA

Thảo dược NAVA giúp làm tăng acid gamma-aminobutyric (GABA) trong não, giúp người bệnh đi vào giấc ngủ nhanh, dễ dàng và duy trì giấc ngủ lâu hơn.

http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2013/2131733279-2-thao-duoc-nava-1.jpeg

GABA là một chất ức chế dẫn truyền thần kinh, có tác dụng làm giảm hoạt tính của các neuron thần kinh và ngăn cản các truyền dẫn căng thẳng, bất an đến vùng thần kinh trung ương, giúp cơ thể được thư giãn, an thần.

Đây cũng là cơ chế tác dụng của benzodiazpin (nhóm thuốc an thần gây ức chế và làm dịu hệ thần kinh trung ương). Tuy nhiên, tác dụng của NAVA dịu hơn, không gây phản ứng phụ và không gây nghiện.

Thường tác dụng chữa trị của NAVA có thể nhận thấy sau vài ngày cho đến 4 tuần.

http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2013/best_2131733279-3-kgDUn6W8DcJ1sgI1af4O1nd0-AvS4dw7o-MLEAodB7g-w780-h585-no.jpeg

NAVA là thảo dược 100% nguyên chất, có nguồn gốc từ Châu Âu, được sử dụng từ thời Ai Cập và La Mã cổ đại cách đây hơn 2.000 năm trong điều trị bệnh mất ngủ.

 Thảo dược NAVA được Commision E của Đức công nhận như một loại an thần dịu và được FDA xếp vào nhóm GRAS (nhóm thực phẩm an toàn).

 Độc giả cần tư vấn thêm về bệnh rối loạn giấc ngủ, vui lòng liên hệ:

 BS. Tư vấn:  (08) 54123 009 – 0968 456 454.

Email: bacsi@thaoduocthegioi.com

Chi tiết: www.thaoduocthegioi.com

21/11/2013

Nguy cơ tiểu đường từ ăn nhiều thịt

Phụ nữ có chế độ ăn uống chủ yếu là thịt dễ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Nguyên do là chế độ này thường chứa quá nhiều a xít.

Chế độ ăn nhiều thịt không có lợi cho sức khỏe - Ảnh: Shutterstock

Khảo sát ở 66.485 phụ nữ, các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu về dịch tễ học và sức khỏe dân số Pháp phát hiện các chế phẩm từ động vật thường chứa nhiều a xít, theo Independent. Tuy nhiên, ăn nhiều trái cây và rau củ sẽ giúp trung hòa hàm lượng a xít.

Nhiễm a xít mãn tính, tình trạng do nồng độ a xít tăng trong máu và các mô cơ thể gây ra, làm giảm độ nhạy cảm insulin, từ đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Các chuyên gia nhận thấy ở những người có hàm lượng a xít cao nhất, nguy cơ bị tiểu đường tăng 56% so với nhóm có lượng chất này thấp nhất.

Giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

Những phương pháp giảm cân sai lầm không những không mang lại hiệu quả giảm cân mà còn có thể gây nên bệnh tim mạch, rối loạn chuyển hóa, suy nhược cơ thể...

Ilite_2.JPG

Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là "bụng bia" hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy. Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
ky_duyen_0263.JPG

Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân - béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục...

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Ilite_1.JPG

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.

Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

19/11/2013

Điều trị rối loạn mỡ máu: Phương pháp nào tối ưu?

Rối loạn mỡ trong máu hay còn gọi là tăng mỡ trong máu hoặc tăng cholesterol máu là bệnh khá phổ biến hiện nay. Bệnh là mối lo ngại của nhiều người có tình trạng cân nặng dư thừa nhưng thực tế nhiều người gầy vẫn bị rối loạn mỡ trong máu. Rối loạn mỡ trong máu là nguy cơ chính của nhiều bệnh nguy hiểm như: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch...

Rối loạn mỡ trong máu là gì?
Rối loạn mỡ trong máu là bệnh lý có tăng thành phần mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ bảo vệ cho cơ thể. Mỡ trong máu hiện diện dưới 2 dạng chính là cholesterol và triglycerid.
 
Phương pháp nào tối ưu? 1
Hình ảnh xơ vữa động mạch do rối loạn lipid máu
Thực tế cholesterol không phải là chất hoàn toàn gây hại cho cơ thể. Chúng ta không thể sống được nếu không có cholesterol. Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Ngoài ra, gan còn dùng cholesterol để sản xuất ra acid mật giúp ta tiêu hóa thức ăn.

Cholesterol có 2 nguồn gốc từ thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng... (chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể) và do gan tạo ra (chiếm đến 80%).

Nhiều nghiên cứu về rối loạn mỡ trong máu trên thế giới cho thấy khi cholesterol toàn phần tăng cao hơn 240mg% thì nguy cơ bị bệnh mạch vành tim tăng lên 2 - 3 lần. LDL-C tăng cao thì tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.
Triglyceride tăng cao nhất là ở bệnh nhân bị tiểu đường thì nguy cơ xơ mỡ động mạch cũng cao hơn và HDL-C giảm thấp cũng tăng các nguy cơ tai biến về mạch máu và xơ mỡ động mạch.

Điều trị và phòng ngừa rối loạn mỡ máu
Để điều trị rối loạn mỡ trong máu, chúng ta có thể dùng 2 phương pháp điều trị không dùng thuốc và điều trị có dùng thuốc.

Điều trị không dùng thuốc
Kiểu điều trị này có tác dụng như phòng ngừa rối loạn mỡ trong máu, nếu thực hiện tốt có thể giảm được 15 - 20% cholesterol toàn phần. Điều trị không dùng thuốc gồm 3 phần cơ bản sau đây:

Ngừng hút thuốc lá, không uống quá nhiều rượu: Ngừng thuốc lá là việc làm cần thiết, quan trọng với bệnh nhân rối loạn mỡ trong máu, thuốc lá là yếu tố góp phần làm thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch và làm tăng cholesterol gây hại LDL. Uống rượu quá nhiều dễ bị tăng triglyceride hơn.

Trong chế độ ăn uống, cần lưu ý 3 vấn đề: Nếu bị béo phì hay dư cân nặng, cần thiết phải giảm cân. Nên giảm ăn nhiều chất béo: gần như giới hạn ăn tất cả các loại chất béo như dầu, kem, mỡ, bơ... Chất béo ăn vào hàng ngày không quá 30% nhu cầu năng lượng của cơ thể.

Giảm ăn mỡ bão hòa: không nên ăn quá 1/3 mỡ bão hòa trong nhu cầu chất béo hàng ngày. Mỡ bão hòa có trong thành phần mỡ heo, bò, gà, bơ, phô-mai, crem, sôcôla, dầu dừa. Cũng cần lưu ý là shortening và margaring là những chất thường được sử dụng trong chế biến các loại kem làm bánh cũng làm tăng cholesterol trong máu.

Giảm cholesterol trong bữa ăn hàng ngày: không ăn quá 300mg cholesterol mỗi ngày. Tránh ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như sữa toàn phần, crem, trứng, phủ tạng động vật như gan, lưỡi, thận...

Thường xuyên luyện tập thể thao: Ngoài việc kiêng cữ trong ăn uống thì việc tập thể dục thể thao sẽ góp phần tăng tác dụng của việc kiêng ăn. Bác sĩ điều trị sẽ đề nghị hình thức tập thể dục chơi thể thao phù hợp với sức khỏe của từng người. Tập thể dục thể thao nhịp nhàng dưới các hình thức: đi bộ, chạy bộ, đạp xe đạp... ở mức độ không gắng sức là phù hợp. Mỗi lần tập cố gắng đủ 30 - 45 phút, ít nhất tập thường xuyên 3 lần/1 tuần.

Điều trị có dùng thuốc

Sau khi áp dụng chế độ điều trị không dùng thuốc trong 3 - 6 tháng mà vẫn không cải thiện được tình trạng rối loạn mỡ trong máu, đặc biệt là LDL-C còn cao thì bác sĩ sẽ cho dùng thêm thuốc hạ mỡ trong máu. Nên dùng dưới sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ vì thuốc ngoài tác dụng hạ mỡ trong máu còn gây nhiều tác dụng phụ khác.

Hiện nay, có nhiều nhóm thuốc hạ mỡ trong máu: nhóm fibrate, nhóm statin, nhóm resin, nhóm niacin. Mỗi nhóm có tác dụng hạ mỡ theo những cơ chế khác nhau. Việc lựa chọn sử dụng loại nào phù hợp trong điều trị cho bệnh nhân sẽ do thầy thuốc chuyên khoa quyết định.

Cần lưu ý là hầu hết các thuốc hạ lipid máu đều có tác dụng phụ nhất định cho cơ thể, cho nên bệnh nhân không nên tự dùng thuốc mà phải tuyệt đối tuân theo chỉ định và theo dõi của bác sĩ.

Bệnh nhân rối loạn mỡ máu nên thực hiện tốt việc điều trị không dùng thuốc. Việc dùng thuốc phải dưới sự kiểm soát của bác sĩ vì các thuốc hầu hết đều có hại cho gan và gây nhiều tác dụng phụ khác. Điều quan trọng khác là hầu hết các thuốc này khá đắt tiền và thời gian điều trị có thể kéo dài trong nhiều năm. Thông thường, sau khi điều trị ít nhất 3 tháng mới thấy được kết quả.

Rối loạn mỡ trong máu là bệnh không gây tác hại tức thời nhưng tác hại về lâu về dài của bệnh thì rất nguy hiểm và hầu như không điều trị được, vì thế, việc phòng ngừa và phát hiện sớm là rất quan trọng.

BS. Phan Hữu Phước

18/11/2013

OVATA: Chất xơ cần thiết cho viêm đại tràng mãn tính

Viêm đại tràng mãn tính (VĐTMT) là một trong những bệnh lý đường tiêu hoá thường gặp ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê gần đây nhất, số người bị VĐTMT khá cao (chiếm 20% dân số) và có xu hướng ngày càng gia tăng.
VĐTMT là quá trình viêm nhiễm gây tổn thương khu trú hoặc lan toả ở niêm mạc đại tràng với các mức độ khác nhau, nhẹ thì niêm mạc kém bền vững và dễ chảy máu, nặng thì xuất hiện các vết loét, xung huyết và xuất huyết, thậm chí có thể có những ổ áp xe nhỏ.
OVATA: Chất xơ cần thiết cho viêm đại tràng mãn tính - 1

Một số triệu chứng của VĐTMT

- Rối loạn tiêu hóa kéo dài, đi ngoài từ 2 đến 6 lần mỗi ngày.

- Đi ngoài phân lúc táo, lúc lỏng, lúc nát hoặc có khi đi mà không có phân

- Bụng trướng hơi, căng tức, khó chịu dọc khung đại tràng.

- Đau bụng: âm ỉ ở phần dưới bụng hoặc dọc khung đại tràng. Đau tăng dữ dội, có khi là đau quặn bụng sau khi ăn và trước khi đi đại tiện. Cơn đau chỉ hết sau khi đi đại tiện.

- Dị ứng đồ ăn: dễ đau bụng, trướng hơi, đi ngoài sau khi ăn những món nhiều dầu mỡ, chua cay, rượu bia, cà phê …

Hậu quả của VĐTMT

Người bị VĐTMT sẽ cảm thấy toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, đầy bụng, chán ăn, giảm trí nhớ, tính tình thay đổi, hay cáu gắt, lo lắng thái quá. Nếu nặng thì thể trạng gầy sút, hốc hác và có thể nguy hại đến tính mạng.

OVATA: Chất xơ cần thiết cho viêm đại tràng mãn tính - 2

Phòng và trị bệnh

Nguyên tắc chung là điều trị nội khoa với phương châm kiên trì và toàn diện, bao gồm:

- Lựa chọn chế độ ăn uống, làm việc và sinh hoạt phù hợp.

- Tuỳ theo bệnh trạng cụ thể mà sử dụng thuốc cho hợp lý:

- Loại trừ nguyên nhân gây bệnh nếu có: kháng sinh chống nhiễm khuẩn (berberin, biseptol, ercefuryl...), chống nấm (nystatin), chống ký sinh trùng (flagyl, klion, fugacar...), chống miễn dịch (liệu pháp corticoid)...;

- Giảm đau và chống co thắt (papaverin, no-spa, spasmaverine...);

- Chống tiêu chảy, chống loạn khuẩn (smecta, antibio, bioflor, biolactyl...).

Phòng và trị bệnh bằng Thảo dược OVATA

Một nghiên cứu với các bệnh nhân bị viêm loét đại tràng cho thấy Thảo dược OVATA có tác dụng tương đương thuốc kê đơn mesalamine trong việc giảm tái phát bệnh.

Theo University of Maryland Medical Center, Thảo dược OVATA có tác dụng điều trị tiêu chảy ở bệnh nhân bị viêm loét đại tràng từ nhẹ đến trung bình. OVATA sẽ hấp thụ nước từ chất thải tiêu hóa, làm giảm tốc độ di chuyển của phân mà không làm kích thích niêm mạc bị viêm ở ruột.

OVATA: Chất xơ cần thiết cho viêm đại tràng mãn tính - 3
Thảo dược OVATA khi hòa chung với nước

Theo BS Hồ Lê Ái Xuân – TT Tầm Soát HCS, OVATA cũng hoạt động như một prebiotic – chất dinh dưỡng hỗ trợ cơ thể trong việc làm lành các lớp lót bên trong của ruột bị viêm. Nó cũng được sử dụng như một thành phần bổ sung cho chế độ ăn uống thường xuyên để điều chỉnh nhu động ruột.

Thảo dược OVATA đã được sử dụng hơn 3.000 năm trong y học. Hiện nay, OVATA đang được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt là Mỹ (8000 tấn/năm), các nước thuộc liên minh Châu Âu, Úc, Nhật,...

OVATA: Chất xơ cần thiết cho viêm đại tràng mãn tính - 4

Ngoài tác dụng trị bệnh viêm đại tràng mãn tính, OVATA còn điều trị hiệu quả với bệnh táo bón, trĩ và rối loạn tiêu hóa do uống bia… Sản phẩm được Bộ Y Tế chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng và được bán rộng rãi trên toàn quốc.

Độc giả cần tư vấn thêm về bệnh viêm đại tràng, vui lòng liên hệ:
BS. Tư vấn:  (08) 54123 009 – 0968 456 454.
Email: bacsi@thaoduocthegioi.com
Chi tiết: www.thaoduocthegioi.com

15/11/2013

Người thành thị bị bệnh đái tháo đường tấn công

Cứ 100 người trong độ tuổi từ 30 đến 69 tại TP HCM thì có khoảng 11 người mắc bệnh đái tháo đường. Không ít người bị biến chứng phải cắt chân, nằm liệt và tử vong.

Phát biểu tại mít-tinh hưởng ứng ngày quốc tế Đái tháo đường 2013 diễn ra ngày 12/11 tại TP HCM, bác sĩ Đỗ Thị Ngọc Diệp, giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng thành phố cho biết theo điều tra dịch tễ học mới nhất, tỷ lệ người lớn mắc bệnh là 11,4%. Riêng số người bị rối loạn chuyển hóa đường (hay còn gọi là tiền đái tháo đường) lên đến 31,1%.

“Nếu so sánh số liệu điều tra vào các năm 2004 và 2008, bệnh đái tháo đường đã tăng 162% sau 4 năm và 300% sau 8 năm. Đây là vấn đề cần cảnh báo”, bà Diệp nói.

dai-thao-duong-7189-1384254773.jpg
Nhiều người mắc bệnh đái tháo đường nhưng không biết mình mắc bệnh

Kết quả điều tra mới nhất do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện cũng cho thấy tỷ lệ người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường nói chung tại Việt Nam là 5,7%. Tốc độ gia tăng của bệnh đặc biệt cao tại các thành phố lớn như TP HCM, Hà Nội. Tốc độ này cũng cao hơn nhiều so với bình quân của các nước phát triển và các nước trong khu vực.

Theo các chuyên gia, bệnh này không lây. Nguyên nhân chính của sự gia tăng bệnh đái tháo đường là do quá trình đô thị hoá và sự phát triển kinh tế kéo theo những thay đổi lối sống theo chiều hướng không có lợi cho sức khỏe. Trong đó hai yếu tố chính liên quan đến cá nhân người mắc bệnh là dinh dưỡng và vận động không hợp lý. Nhiều người có chế độ dinh dưỡng sai và quá ít vận động.

Nhận thức về bệnh đái tháo đường trong người dân còn hạn chế. Nhiều người vẫn cho rằng bệnh này của nhà giàu, người già, của người thành phố. "Có đến 65% người mắc bệnh đái tháo đường không biết mình bị mắc bệnh. Họ chỉ phát hiện do tình cờ được xét nghiệm máu, hoặc khi bệnh đã biến chứng”, bác sĩ Diệp cho hay.

Theo các bác sĩ y tế cộng đồng, biến chứng cấp tính của đái tháo đường là hôn mê do tăng hoặc hạ đường huyết quá mức, có thể gây tử vong nhanh chóng. Biến chứng mãn tính là bệnh lý võng mạc gây mù lòa, suy thận, suy động mạch vành, tai biến mạch máu não, hẹp và viêm tắc động mạch chi dưới, tổn thương thần kinh ngoại vi, các biến chứng nhiễm trùng ở da, niêm mạc, đường hô hấp, tiết niệu, sinh dục.

Để tránh mắc bệnh, cần ăn đủ và cân đối. Cụ thể là nên ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm từ 15 đến 20 loại mỗi ngày nhằm cung cấp đa dạng chất dinh dưỡng cho cơ thể, nhiều thực phẩm nguồn gốc thực vật. Chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp. Ăn thức ăn giàu đạm với tỷ lệ cân đối giữa nguồn thực vật và động vật, tăng cường ăn cá. Tỷ lệ đạm động vật nên chiếm ít hơn lượng đạm trong khẩu phần hàng ngày. Nên sử dụng chất béo ở mức hợp lý, chú ý phối hợp giữa dầu thực vật và mỡ động vật. Tỷ lệ chất béo động vật không nên vượt quá 1/3 lượng chất béo trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Ăn rau, củ, quả hàng ngày để có đầy đủ nhiều loại vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể, đồng thời  có nhiều chất xơ giúp hạn chế tăng đường huyết nhanh sau ăn. Đặc biệt không ăn mặn, sử dụng muối iốt trong chế biến thức ăn. Nên ăn muối ở mức 5g/người/ngày. Uống đủ nước chín hàng ngày, hạn chế rượu bia, đồ ngọt. Nên tập thể dục thể thao thường xuyên và điều độ ít nhất mỗi tuần 5 lần, mỗi lần từ 30 đến 60 phút.

Khát nước, ăn nhiều coi chừng bị đái tháo đường

Khát nhiều, ăn nhiều; đi tiểu thường xuyên; sụt cân đột ngột nếu thừa cân; vết thương lâu không lành; luôn mệt mỏi; nhiễm nấm âm đạo; rối loạn sinh hoạt tình dục... là những dấu hiệu cảnh báo nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.

Thông tin được các chuyên gia đưa ra tại Ngày hội Phòng chống bệnh đái tháo đường diễn ra ngày 14/11 tại Hà Nội.

Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết, đái tháo đường đang là một trong những bệnh nội tiết phổ biết nhất trên thế giới. Theo Liên đoàn phòng chống Đái tháo đường Thế giới, đây không còn là bệnh của người giàu mà đang gia tăng nhanh chóng ở mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là người có sự thay đổi về lối sống, ít vận động. Đây là vấn đề sức khỏe quan trọng, thách thức lớn với tất cả quốc gia, trong đó có Việt Nam.

“Tại đất nước ta sau hơn 30 năm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ lệ mắc đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng. Bệnh không chỉ xuất hiện ở thành phố lớn mà khắp mọi miền đất nước, từ miền núi đến trung du, đồng bằng. Chỉ sau 10 năm số mắc đã tăng gấp đôi. Điều đó cho thấy đái tháo đường đang là bệnh có tốc độ gia tăng rất lớn trong cộng đồng”, tiến sĩ Vinh cho biết.

tieuduong1.jpg
Đái tháo đường đang trở thành đại dịch trên toàn cầu

Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế, tỷ lệ đái tháo đường của người Việt năm 2013 đang ở mức 5,7% và số lượng bệnh nhân đang có chiều hướng tăng gấp đôi vào năm 2030. Trên 60% người mắc bệnh trong cộng đồng không được phát hiện, khi phát hiện đã có nhiều biến chứng nguy hiểm như: tim mạch, suy thận, thần kinh, biến chứng bàn chân đái tháo đường...

Tiến sĩ Đỗ Trung Quân, Phó chủ tịch Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam cho biết, ngay cả những người đã được chẩn đoán cũng chưa được điều trị đúng mức và đa số đều không đạt được mục tiêu điều trị. Cứ 10 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thì 6 người đã bị biến chứng.

“Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng, nếu chúng ta có ý thức phòng bệnh (ăn uống hợp lý và hoạt động thể lực thường xuyên như đi bộ vào buổi sáng) thì có thể giảm được tỷ lệ người mắc. Còn nếu người đã mắc bệnh thì ngăn để không cho các biến chứng xuất hiện; khi biến chứng đã xuất hiện thì làm cho các biến chứng không nặng thêm”, tiến sĩ Quân chia sẻ.

Cục trưởng Quản lý Khám chữa bệnh Lương Ngọc Khuê cũng nhấn mạnh: “Nhận thức và lo ngại mức độ nguy hiểm của căn bệnh mới chỉ là điều kiện cần, những hành động như thăm khám bệnh định kỳ, lối sống lành mạnh, tập thể dục đều đặn mới chính là điều kiện đủ để giảm thiểu bệnh”.

Rối loạn dung nạp đường (biểu thị bằng lượng đường trong máu cao) là yếu tố tiên lượng quan trọng của bệnh đái tháo đường trong vòng 5 năm tới. Tỷ lệ rối loạn dung nạp đường hiện ảnh hưởng đến 5,4 triệu người, chiếm 9,5% dân số trưởng thành ở Việt Nam. Đây là một con số không nhỏ. Do đó, yếu tố ăn uống và lối sống lành mạnh là yếu tố quan trọng nhất trong điều trị và phòng bệnh.

Người bệnh cần chú ý đến chế độ ăn và vận động: giảm các loại thức ăn chiên xào và nhiều dầu mỡ; ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, rau, trái cây; giảm cân bằng cách tập thể dục; tập ngồi thiền để giảm stress. Trong những ngày bị bệnh thì nên thay thế chất bột đường bằng thức ăn mềm hoặc lỏng dễ tiêu; tránh thức ăn cay; không bao giờ bỏ tiêm insulin ngay cả khi ăn kiêng; kiểm tra đường huyết mỗi 4 giờ; uống nước lọc và thức ăn nhẹ; nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt.

Đặc biệt, bệnh nhân cũng cần chú ý chăm sóc bàn chân để tránh biến chứng. Cụ thể, rửa chân hàng ngày với xà phòng và nước ấm, sau đó lau chân thật khô, đặc biệt là ở các kẽ ngón chân. Chú ý cắt móng cẩn thận, móng mọc vào trong và nốt chai cần được nhân viên y tế chăm sóc; giữ cho da chân luôn mềm mại bằng kem dưỡng ẩm, nhưng không được bôi kem vào các kẽ ngón chân; mang vớ sạch mềm, không quá chật hay rộng, thay vớ hàng ngày. Tự kiểm tra chân hàng ngày và đi khám bác sĩ ngay nếu có gì bất thường. Không bao giờ đi chân đất ngoài đường cũng như trong nhà, luôn mang giầy hoặc xăng đan vừa chân và bảo vệ tốt chân. Kiểm tra giầy dép thật kỹ trước khi xỏ vào, viên sỏi, đường may hay bất cứ vật gì bên trong giày đều có thể gây tổn thương bàn chân.

Ngày hội Phòng chống bệnh đái tháo đường được tổ chức vào 3 ngày (14-16/11) tại Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Người dân sẽ được thử máu miễn phí, đo đường huyết, tư vấn y khoa cho những người có đường huyết cao...

Dấu hiệu bạn mắc chứng lo âu

Bạn thường xuyên chìm sâu trong nỗi sợ hãi vô hình, cơ thể mệt mỏi, khó chịu? Hãy cẩn thận với chứng bệnh lo âu.
1. Lo lắng quá độ

Phần lớn đặc điểm của chứng lo âu là suy nghĩ quá nhiều. Nếu một tuần bạn lo lắng quá 4 ngày, kéo dài trong nửa năm, kèm theo tâm trạng rất xấu, ảnh hưởng tới công việc, cuộc sống, rất có thể bạn đang mắc chứng bệnh này.

2. Gặp vấn đề về giấc ngủ

Nhiều người hay bị lo lắng một vài chuyện trước khi ngủ, nên não của họ giống như bị "tắc đường", không cảm thấy thư thái để có giấc ngủ ngon. Thậm chí sau khi tỉnh giấc, họ cũng khó bình tĩnh trở lại.

3. Những nỗi sợ vô lý

Bạn thường xuyên chìm trong tâm trạng sợ hãi, dù không hề có đối tượng sợ cụ thể - dấu hiệu cho thấy bạn đang bị chứng bệnh lo âu hành hạ.

lo-au-a.jpg

4. Sợ đám đông

Một số người tồn tại chứng sợ hãi đám đông, thậm chí họ phải mất rất nhiều thời gian để suy nghĩ về điều đó, và không biết điều tiết cảm xúc thế nào. Những biểu hiệu này khiến họ khó có thể duy trì mối quan hệ xã hội, thậm chí cảm thấy thất vọng với công việc, học tập...

5. Cơ bắp căng thẳng

Hai tay thường vô thức nắm chặt, lưng cứng đờ… khắp cơ thể thấy mệt mỏi khó chịu cũng là dấu hiệu của chứng lo âu. Bạn hãy thông qua hình thức vận động thường xuyên để giảm áp lực.

6. Nói những câu lặp đi lặp lại

Những người hễ gặp chút việc nhỏ, thay vì ngồi suy nghĩ, họ liên tục hỏi đi hỏi lại ai đó bên cạnh, có thể họ đang mắc chứng lo âu.

7. Sự hoảng loạn tấn công


Biểu hiện của nó là bỗng nhiên cảm thấy sợ hãi và bất lực, thường duy trì trong vài phút, kèm theo dấu hiệu khó thở, chân tay tê liệt, đổ mồ hôi, đau đầu thiếu sức lực.

8. Nghi ngờ chính mình

Nhiều người có thói quen tập trung vào một số vấn đề cụ thể rồi liên tục tự đặt câu hỏi nghi ngờ chính mình, như mình có yêu chồng không, mình có năng lực không… Để rồi chính họ cũng không có một câu trả lời rõ ràng, nên luôn bị rơi vào trạng thái mệt mỏi, lo âu.

14/11/2013

Một số điều cần biết về táo bón ở trẻ em

Trẻ bị táo bón đi phân cứng như đá cuội trong hầu hết các lần đi vệ sinh, trong tối thiểu hai tuần, đi vệ sinh dưới 2 lần trong 1 tuần trong tối thiểu hai tuần, không có các bệnh nội tiết hoặc chuyển hóa….
Nguyên nhân trẻ bị táo bón là do trẻ có chế độ ăn nhiều bột và đường, thiếu chất xơ, uống ít nước, ít vận động hoặc do tâm lý như sợ bẩn (nhà vệ sinh dơ, hôi), quen dùng thuốc nhuận trường, học hành quá căng thẳng, sang chấn tâm lý.

Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác gây táo bón như giảm nhu động đại tràng (13%), hội chứng tắc nghẽn đường ra (25%), do bệnh như tiểu đường, nhược giáp, xơ cứng bì, do thuốc như Bismuth, aluminium, sữa bù calcium, thuốc chống trầm cảm, ức chế kênh calci…

Để điều trị bệnh táo bón ở trẻ, các bậc cha mẹ cần biết rõ nguyên nhân. Nếu nguyên nhân do ngoại khoa như teo đại tràng, hẹp đại tràng, bệnh Hirschsprung… thì điều trị phẫu thuật khi có chỉ định. Nếu do nguyên nhân nội khoa, thì cần thay đổi chế độ dinh dưỡng và dùng thuốc.

Về việc thay đổi chế độ dinh dưỡng, nếu trẻ còn bú mẹ thì mẹ nên ăn nhiều chất xơ, tăng lượng nước uống vào; không cho trẻ uống trà, tránh các thức ăn giàu bột, đường như chocolate và mứt, tránh dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nonsteroid hoặc thuốc an thần, tăng dùng trái cây thực phẩm có chất xơ. Ngoài ra nên tập thói quen đi cầu cho trẻ, giảm thiểu hoặc loại bỏ những áp lực ở trường học và nâng đỡ tâm lý cho trẻ. Còn nếu dùng thuốc thì việc dùng thuốc chống táo bón phải theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ.



Nguyên nhân gây táo bón thường gặp nhất ở trẻ em là do chế độ ăn chưa đúng và tâm lý. Vì vậy để phòng ngừa táo bón, cần phải cho trẻ uống nước nhiều, ăn rau quả, thực phẩm nhiều chất xơ, tập thói quen đi tiêu đúng giờ, không nhịn đi tiêu và tập thể dục thể thao.


Nguồn: Bệnh viện Nhi đcồng 1 TP.HCM

“Đại dịch” đái tháo đường đã rất gần

Đái tháo đường được xem là “kẻ giết người thầm lặng”, “đại dịch” của thế kỷ 21. “Giết người thầm lặng” vì bệnh không có triệu chứng đặc hiệu để người bệnh cảnh giác, nên khi biểu hiện là các biến chứng nguy hiểm rầm rộ xuất hiện.

Nhiều trẻ em được tổ chức sinh nhật bằng các bữa tiệc thức ăn nhanh

Còn gọi “đại dịch” là do sự phát triển rất nhanh cả về số người mắc bệnh lẫn vùng địa lý của bệnh.

Tác hại như sóng thần, siêu bão

Tốc độ gia tăng bệnh đái tháo đường tại Việt Nam nhanh chóng không kém thế giới, đặc biệt tại các TP lớn. Sau 10 năm, từ 2002-2012, bệnh đái tháo đường ở Việt Nam tăng 211%. Riêng tại TP.HCM, theo điều tra dịch tễ học do Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM tiến hành năm 2012 trên những người trưởng thành từ
30-69 tuổi thì tỉ lệ đái tháo đường là 11,4%. Tỉ lệ gia tăng người bệnh rối loạn chuyển hóa đường (tiền đái tháo đường) là 31,1%. Nếu so sánh với các năm 2004 và 2008 thì bệnh đái tháo đường đã tăng 300% sau tám năm và 162% sau bốn năm. Tốc độ gia tăng của người bệnh tiền đái tháo đường tại TP.HCM cũng nhanh đến chóng mặt, 114% sau bốn năm.

Do mãn tính, bệnh đái tháo đường sẽ theo bệnh nhân suốt đời. Các biến chứng của bệnh đều rất nặng nề, như hôn mê dẫn đến tử vong nhanh chóng (cấp tính), bệnh lý võng mạc gây mù lòa, suy thận, suy động mạch vành, tai biến mạch máu não, hẹp và viêm tắc động mạch chi dưới, các biến chứng nhiễm trùng ở da (mạn tính)...

Xét về mặt kinh tế - xã hội thì tác hại của bệnh đái tháo đường không kém gì thiệt hại do các tai họa thiên nhiên lớn như sóng thần, siêu bão. Hầu hết các quốc gia phải dành một phần ngân sách đáng kể để phòng và điều trị bệnh đái tháo đường. Hiện phần lớn chi phí này dành cho việc điều trị các biến chứng của bệnh, như thế giới đang phải chi phí cho căn bệnh này 471 tỉ USD/năm. Tại Việt Nam với 3.160.720 người mắc bệnh, chúng ta đang phải chi hằng năm khoảng 7.837 tỉ đồng.

Có ngăn chặn được không?

Bệnh đái tháo đường hoàn toàn có thể phòng ngừa, hạn chế được thông qua các giải pháp không quá phức tạp, tốn kém nhưng đòi hỏi sự kiên trì, đồng bộ cả cộng đồng và từng cá nhân. Cụ thể là:

- Đầu tư nguồn lực để hướng dẫn người dân từ khi còn nhỏ tuổi đã nhận thức được các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường, từ đó hình thành và duy trì lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý, kiểm soát tốt cân nặng sẽ góp phần rất lớn kiểm soát sự gia tăng bệnh đái tháo đường.

- Với người trưởng thành: cần hiểu rõ và có chế độ dinh dưỡng đúng, vận động tối thiểu 30 phút/ngày, không lạm dụng bia rượu, thuốc lá, duy trì cân nặng hợp lý. Còn với bệnh nhân đái tháo đường, lối sống lành mạnh này sẽ giúp quá trình điều trị hiệu quả hơn và giảm các biến chứng nặng nề của bệnh.

- Từ 40 tuổi, mọi người cần kiểm soát cân nặng, vòng bụng, huyết áp. Nếu các chỉ số này tăng phải kịp thời giải quyết. Muốn vậy, mọi người cần khám sức khỏe định kỳ, thử đường huyết mỗi sáu tháng nhằm phát hiện sớm bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường để được hướng dẫn điều trị kịp thời.

BSCK2 ĐỖ THỊ NGỌC DIỆP
(Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HC

Thói quen xấu của chị em văn phòng

Chị em văn phòng có một số sở thích nhỏ tưởng như vô hại nhưng về lâu dài lại mang đến một loạt những rắc rối sức khỏe.

Đi giày cao gót 5-10cm

Vì lý do thẩm mỹ hoặc yêu cầu công việc mà hầu hết phụ nữ công sở thường xuyên đi giày cao gót. Thậm chí đi xem phim sau giờ làm việc, gặp gỡ bạn bè hay tới trung tâm mua sắm cũng không thể rời khỏi đôi giày cao gót.

Tuy nhiên, đi giày cao gót trong thời gian dài sẽ khiến đôi chân thường xuyên trong trạng thái không tự nhiên. Khi đi giày cao gót, tất cả trọng lượng cơ thể dồn hết xuống chân khiến các ngón chân phải chịu quá nhiều áp lực, dễ dẫn đến nhiều bệnh như Hallux valgus (một bệnh biến dạng khớp ngón chân), các căn bệnh về khớp, gan bàn chân, đau cột sống...

Để phòng ngừa và giảm bớt tác hại, bạn nên chuẩn bị một đôi giày bệt để đi lại, lúc này 8 tiếng nơi công sở sẽ trở thành thời gian cho đôi chân được thư giãn. Không nên đi cùng một đôi giày trong ba ngày liên tiếp để giữ sức khỏe cho chân.


Đeo điện thoại di động trước ngực

Nhiều chị em do đặc thù công việc, thói quen hoặc vì trang phục không có túi... mà thường xuyên đeo điện thoại di động trước ngực cho tiện. Dẫu mối nguy hiểm từ bức xạ điện thoại di động vẫn đang còn nhiều tranh cãi nhưng đeo nó trên ngực hay gần các phần nhạy cảm khác trên cơ thể thì ít nhiều vẫn có tác hại.

Để giảm bớt những tác động xấu bạn nên sắm một phụ kiện giữ điện thoại di động trên bàn. Hoặc bạn cũng có thể lưu giữ nó trong ngăn kéo để không lo ảnh hưởng đến công việc.

Tô lại lớp trang điểm nhiều lần

Có những phụ nữ phải trang điểm nhiều lần trong ngày để củng cố lại lớp phấn đã bạc và lớp son môi đã nhạt... Tuy nhiên, hàng ngày, làn da của chúng ta phải đối mặt với nhiều tác động bên ngoài nên dễ tích tụ bụi, vi khuẩn... trên bề mặt da. Do đó, nếu bạn liên tục tô thêm các lớp phấn trang điểm, thì các tạp chất này lưu lại trên da lâu sẽ khiến da tiết bã nhờn nhiều hơn và nhiễm bẩn nặng hơn. Lúc này, nếu bạn không kịp thời tẩy trang, các chất ô nhiễm sẽ có cơ hội xâm nhập trực tiếp trên da, đi sâu vào lỗ chân lông gây kích ứng da, mụn đầu đen và mụn trứng cá...


 Để giảm bớt những tác động xấu, bạn nên chuẩn bị sẵn một chai sữa rửa mặt trong văn phòng để giúp loại bỏ nhanh lớp trang điểm khi cần thiết. Hãy chắc chắn là lớp trang điểm ấy được làm sạch kỹ lưỡng, cho phép làn da được “thở” một vài phút trước khi trang điểm.

Uống cà phê, trà và các đồ uống khác quá nhiều mà bỏ qua nước sôi


Cà phê, trà và các thức uống khác đều là những dung môi cho quá trình trao đổi chất của cơ thể nhưng khác biệt ở chỗ, chúng không thể thay thế cho nước, đặc biệt là thay thế chức năng giải độc của nước đã đun sôi. Cà phê, trà, thuốc lợi tiểu, có hiệu lực giải quyết cơn khát nhưng cũng có thể gây mất nước ở tế bào... nếu uống nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng của cơ thể.


Để giảm bớt những tác động xấu, ngoài các thức uống hàng ngày, bạn cũng nên bổ sung ít 1.500ml nước sôi để nguội, tránh uống nhiều cà phê, trà... Bạn nên tính toán sao cho chúng giới hạn và trong mức kiểm soát là khoảng 250ml mỗi ngày.

Chia sẻ son môi với những người khác

Đôi khi để thử nghiệm những mẫu son môi mới, nhiều chị em văn phòng có thói quen bôi thử son môi chung với những người khác xem có thích hợp với mình không.

Mặc dù son môi chỉ tiếp xúc trên bề mặt môi, nhưng qua các quá trình nuốt, uống nước... sẽ tạo điều kiện cho các vi khuẩn có cơ hội xâm nhập vào trong cơ thể. Thường xuyên sử dụng chung son môi sẽ "mở đường" cho lây nhiễm chéo vi khuẩn, dẫn đến các bệnh về miệng.

Đeo tai nghe

Nhiều người nghĩ rằng đeo tai nghe có thể tránh được ảnh hưởng của những người xung quanh, giúp tập trung trong công việc... Nhưng đeo tai nghe sẽ giảm các âm thanh truyền từ bên ngoài tới tai, khoảng cách truyền âm thanh ngắn, trực tiếp kích thích các dây thần kinh tai với khối lượng kích thích lớn, về lâu ngày có thể làm mất thính lực.


Để giảm bớt những tác động xấu, bạn có thể thay thế tai nghe bằng một loa nhỏ. Nếu  sử dụng tai nghe, bạn nên tránh âm lượng cao. Ngoài ra, không sử dụng tai nghe chung với những người khác, để tránh nhiễm trùng chéo.

Theo TTVN

Ăn kiêng quá mức là tự... “ăn thịt mình”

Có một thực tế hiện nay là rất nhiều bệnh nhân đái tháo đường coi việc ăn kiêng là “cứu cánh” trong việc làm giảm đường huyết mà quên rằng việc giúp cơ thể sử dụng được đường mới là cách làm giảm đường huyết tối ưu nhất. Ăn kiêng đơn thuần, trong nhiều trường hợp có thể góp phần làm giảm đường huyết nhưng khi đó, coi chừng những hệ lụy khi nhịn ăn quá mức...

Nguồn đường cung cấp cho cơ thể từ đâu?
Đường là nguyên liệu chính trong việc cung cấp năng lượng cho cơ thể con người hoạt động. Nguồn đường cung cấp cho cơ thể chủ yếu dựa vào chế độ ăn (200 - 250g/ngày), qua truyền đường trực tiếp ở các bệnh nhân nằm viện, ngoài ra, đường cũng được sản xuất từ các nguồn chất béo (mỡ), protein và từ việc thoái giáng glycogen ở gan và cơ vân. Hormon duy nhất trong cơ thể giúp cho tế bào có thể sử dụng được đường đó là insulin của tế bào beta tuyến tụy.


 Tế bào beta tuyến tụy tiết ra insulin điều hòa đường huyết.

Tăng đường huyết, vẫn thiếu đường…
Bệnh nhân đái tháo đường bao gồm hai typ, typ 1 thường ở người trẻ do thiếu tuyệt đối insulin, typ 2 xảy ra ở tuổi trung niên và người già thường do tình trạng kháng insulin hoặc do sản suất insulin không đầy đủ, do bất thường trong cấu trúc và hoạt động của insulin. Thiếu insulin, đường không được đưa vào tế bào, không chuyển thành glycogen dự trữ tại gan và cơ vân cũng như không chuyển được thành một số sản phẩm chuyển hóa trung gian khác nên đường huyết tăng cao. Như vậy, đường huyết tăng cao trong bệnh đái tháo đường chủ yếu là do cơ thể không sử dụng được đường chứ không phải hoàn toàn là do là thừa đường, do ăn đường quá nhiều. Nói một cách khác, đường huyết tăng cao mà tế bào trong cơ thể vẫn “đói”.

Điều gì sẽ xảy ra khi ăn kiêng quá mức?
Ở một người lớn khỏe mạnh bình thường, lượng đường sẵn có chỉ đảm bảo cung cấp cho cơ thể  trong vòng khoảng từ 4 - 10 giờ nếu cơ thể hạn chế sử dùng đường như hạn chế các hoạt động trí tuệ và thể chất. Nếu bệnh nhân nhịn ăn hoặc ăn kiêng quá mức, sau 24 giờ, lượng đường trong máu sẽ bị giảm xuống, lượng glycogen dự trữ để chuyển thành đường sẽ bị cạn kiệt. Khi đó, cơ thể bắt buộc phải sử dụng các con đường khác để duy trì lượng đường trong máu bằng cách tạo đường mới từ pyruvat, từ mỡ và từ protein của cơ thể. Như vậy, khi lượng thức ăn đưa vào không đủ thì cơ thể bắt buộc phải tự “ăn thịt mình” để đảm bảo đủ năng lượng cho các tế bào hoạt động.


Chế độ ăn khoa học sẽ giúp bệnh nhân duy trì đường huyết và đảm bảo sức khỏe.

Những hệ lụy của việc ăn kiêng quá mức
Ăn kiêng quá mức dẫn đến việc thiếu các chất quan trọng cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động như đường, mỡ, protein cũng như các vitamin, các yếu tố vi lượng cần thiết khác. Ăn kiêng quá mức kéo dài dẫn đến cơ thể gầy mòn suy kiệt, chức năng của các cơ quan trong cơ thể như thần kinh, tim mạch, hô hấp, miễn dịch, huyết học... bị suy yếu. Điều này sẽ dẫn tới các biến chứng nguy hiểm như hôn mê hạ đường huyết (rất hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường nhịn ăn quá mức), suy giảm các hoạt động trí tuệ và thể chất, thiếu máu dinh dưỡng, dễ nhiễm khuẩn... Nhiều bệnh nhân ăn kiêng quá lâu dẫn đến hội chứng sợ thức ăn hoặc khi ăn quá một chút thức ăn là bị rối loạn tiêu hóa do lớp niêm mạc ruột đã bị suy giảm chức năng nên kém hấp thu.
Nên quan niệm cho đúng về chế độ ăn ở bệnh nhân đái tháo đường

Như đã được đề cập ở trên, mục tiêu của điều trị bệnh đái tháo đường không chỉ đơn thuần là đưa trị số đường huyết về bình thường (bằng cách nhịn ăn) mà còn phải giúp cho các tế bào của cơ thể sử dụng được đường để có năng lượng hoạt động. Một chế độ ăn khoa học sẽ vừa đảm bảo không đưa một lượng đường thừa vào cơ thể (tránh làm tăng đường huyết và gây thừa cân) cũng như cung cấp đủ một, lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể hoạt động để tránh hiện tượng sụt cân quá mức cần thiết.

Bên cạnh đó, phải giúp các tế bào trong cơ thể có thể sử dụng được đường bằng cách dùng các thuốc điều trị như insulin theo hướng dẫn của các thầy thuốc chuyên khoa. Việc tăng cường các hoạt động thể lực cũng giúp cho cơ thể “thanh lọc” lượng đường thừa bằng cách tăng sử dụng đường lên gấp nhiều lần tại mô cơ và các cơ quan khác trong cơ thể. 

Tiến sĩ - Bác sĩ Vũ Đức Định

Người viêm đại tràng nên ăn gì?

Viêm đại tràng là một bệnh tiêu hóa thường gặp. Bệnh khởi phát từ một đợt viêm đường tiêu hóa cấp tính do nhiễm khuẩn qua ăn uống nhưng không được điều trị triệt để dẫn tới hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc.

Viêm đại tràng sau nhiều lần tái phát, bệnh chuyển sang viêm đại tràng mạn tính.
Ngoài ra, viêm đại tràng còn có thể do yếu tố tâm lý thần kinh như xúc động, lo lắng, stress... làm ảnh hưởng tới sự điều tiết của hệ thống thần kinh thực vật, gây tăng tiết các chất làm loét ruột.
Bệnh viêm đại tràng mạn tính có biểu hiện: rối loạn tiêu hóa, trướng bụng, đau bụng, phân rối loạn (khi lỏng, khi nát, khi táo), không thoải mái sau khi đại tiện và có cảm giác mót đi nữa...

Người viêm đại tràng nên ăn gì? 1

Cần một chế độ ăn hợp lý
Thay đổi chế độ dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị căn bệnh viêm đại tràng. Cần một chế độ ăn đầy đủ các thành phần dinh dưỡng: chất đạm (protein): 1g/kg/1ngày. Năng lượng: 30-35 kcal/kg mỗi ngày tuỳ theo từng bệnh nhân. Chất béo: ăn hạn chế, không quá 15 g/ngày. Đủ nước, muối khoáng và các vitamin.

Khi bị táo bón: giảm chất béo, tăng chất xơ (đặc biệt là dưới dạng hòa tan như pectin, insulin, oligofructose…). Ăn làm nhiều bữa nhỏ, khoảng hơn 2 tiếng lại ăn một bữa.

Khi bị tiêu chảy: tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị cọ xát. Không ăn rau sống, trái cây khô, trái cây đóng hộp. Nếu ăn trái cây tươi thì phải gọt bỏ vỏ.

Tránh chất kích thích: những thực phẩm có chất kích thích thần kinh như cà phê, sôcôla, trà... đều phải kiêng. Khi chế biến thức ăn nên hấp hoặc luộc, hạn chế các món xào, rán, sốt.

Người viêm đại tràng nên ăn gì? 2

Nên dùng các thực phẩm: gạo, khoai tây, thịt nạc, cá nạc, sữa đậu nành, sữa không có lactose, các loại rau xanh nhiều lá như rau ngót, rau muống, rau cải.

Không nên ăn các thực phẩm như: trứng, sữa, nem rán, thịt mỡ, đậu đen, hành sống, rượu, bia, cà phê, nước ngọt có ga vì các loại thực phẩm này gây đầy hơi, trướng bụng. Cũng không nên ăn các thực phẩm có nhiều lactose như sữa, nhiều đường như quả ngọt, mật ong, nhiều sorbitol (có trong bánh kẹo ngọt) vì bệnh nhân có biểu hiện kém hấp thu các loại đường này, do đó ăn vào sẽ gây trướng bụng, đầy hơi và tiêu chảy.

Tránh các thức ăn cứng như rau sống, bắp luộc ảnh hưởng đến vết loét.

PGS.TS. Trần Minh Đạo

Biến chứng mắt ở bệnh đái tháo đường

Biến chứng mắt tuy không gây chết người nhưng lại cực kỳ nguy hiểm vì thường gây tàn phế và làm mất khả năng lao động. Vậy có các biến chứng mắt nào do bệnh Đái tháo đường?

Bệnh võng mạc do ĐTĐ
Đường huyết (ĐH) cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến tính thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề. Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó, cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính). Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính. Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở võng mạc và trong quá trình liền sẹo có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn. Hậu quả của phù hòng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc... là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn.

Biến chứng mắt ở bệnh đái tháo đường 1

Tùy thuộc vào mức độ tổn thương các mạch máu ở võng mạc mà người ta chia bệnh võng mạc ở BN ĐTĐ làm 2 giai đoạn sớm là bệnh võng mạc không tăng sinh (chưa có các mạch máu mới) và muộn là bệnh võng mạc tăng sinh (đã có các mao mạch mới). Điều đặc biệt nguy hiểm là đa số các BN ĐTĐ không thấy có bất cứ triệu chứng gì về mắt cho đến khi đột nhiên bị mất thị lực. Khi đó, dù có được điều trị rất tích cực và tốn kém thì khả năng bảo tồn được thị lực là rất nhỏ, phần lớn các BN sẽ bị mù vĩnh viễn. Chính vì vậy, các BN ĐTĐ cần đi khám mắt định kỳ, tốt nhất là 6 tháng/lần và được khám bởi bác sĩ chuyên khoa mắt.

Thiên đầu thống
Các BN ĐTĐ có nguy cơ bị thiên đầu thống cao gấp 1,4 lần người bình thường, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những BN tuổi cao và có thời gian bị bệnh ĐTĐ dài. Thiên đầu thống một hoặc cả hai mắt xảy ra khi áp lực trong mắt tăng lên và trong phần lớn các trường hợp, dịch kính sẽ bị thoát ra ngoài. Áp lực cao sẽ chèn ép vào các mạch máu nuôi võng mạc và dây thần kinh thị giác (dây thần kinh số I), hậu quả là vùng võng mạc và dây thần kinh bị phá hủy gây mất thị lực. Các BN bị thiên đầu thống thường có triệu chứng đau đầu nhiều, đặc biệt đau dữ dội hốc mắt, đo nhãn áp thường rất cao.

Đục thủy tinh thể
Đục thủy tinh thể là bệnh có thể gặp nhiều ở những người không bị ĐTĐ, nhất là ở những người cao tuổi. Tuy nhiên, người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị đục thủy tinh thể cao hơn 1,6 lần và đục thủy tinh thể xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn. Đôi khi đục thủy tinh thể xuất hiện ở các BN ĐTĐ týp 1 trẻ tuổi và tiến triển rất nhanh, thường là sau 1 giai đoạn kiểm soát đường máu kém.
Đục thủy tinh thể nặng sẽ ngăn cản ánh sáng đi qua, gây giảm thị lực, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc khám và phát hiện bệnh võng mạc ở các BN ĐTĐ vì rất khó có thể quan sát được đáy mắt và hậu phòng.

Chăm sóc mắt để tránh bị các biến chứng do ĐTĐ

Đầu tiên và quan trọng nhất là luôn luôn giữ ĐH trong vùng an toàn. Cần khống chế huyết áp thường xuyên ở mức dưới 130/80mmHg. Bỏ thói quen hút thuốc lá. Cần đi khám mắt thường xuyên ít nhất là 1 lần mỗi năm và hãy đến bác sĩ chuyên khoa mắt ngay nếu thấy có một hoặc nhiều các dấu hiệu sau: nhìn mờ, khó đọc sánh báo, nhìn đôi, đau một hoặc cả hai bên mắt, mắt đỏ hoặc căng tức, nhìn có hình ảnh ruồi bay, không nhìn rõ sang 2 bên mà bình thường mình vẫn nhìn được; Khi có thai hoặc có kế hoạch sẽ có thai.

Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia

Thận trọng với thuốc chữa khớp diclofenac

Khi bị các bệnh về khớp như thoái hóa khớp, viêm khớp mạn, viêm đa khớp dạng thấp thiếu niên… có thể dùng diclofenac để chữa trị. Ngoài ra, trong các trường hợp đau cấp trong viêm sau chấn thương, sưng nề hoặc đau mạn hay bị thống kinh nguyên phát người ta cũng thường dùng thuốc này để giảm đau, kháng viêm.

Diclofenac là thuốc chống viêm không steroid, do làm giảm đáng kể sự tạo thành những chất trung gian của quá trình viêm như prostaglandin… nên có tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ sốt và là thuốc hay dùng điều trị để giảm viêm, giảm đau trong các bệnh về xương khớp. Nhưng ưu điểm này cũng chính là nhược điểm của thuốc. Do giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa) nên diclofenac lại rất dễ dàng gây hại đường tiêu hóa.

Một số tác dụng phụ thường gặp ở đường tiêu hóa như: đau vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, trướng bụng, chán ăn, khó tiêu. Nặng hơn có thể gây chảy máu đường tiêu hóa, làm ổ loét sẵn có ở đường tiêu hóa tiến triển gây nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu… Thuốc cũng có thể gây nhức đầu, ù tai hoặc người bệnh có cảm giác bồn chồn, co thắt phế quản, mày đay và ảnh hưởng tới mắt (nhìn mờ, đau nhức mắt, nhìn đôi). Và khi có triệu chứng dị ứng với diclofenac (gặp các tác dụng phụ trên) phải ngừng thuốc ngay và điều trị các tác dụng phụ (thường chỉ là điều trị triệu chứng và hỗ trợ). Vì vậy, phải dùng thuốc theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.

Thận trọng với thuốc chữa khớp diclofenac 1

Diclofenac là thuốc có mặt rất rộng rãi trong các nhà thuốc, hiệu thuốc nên đây là thuốc hay bị lạm dụng do người dân tự ý mua về hoặc mách bảo nhau dùng mỗi khi có vấn đề về xương khớp. Nhiều trường hợp "tiền mất tật mang" vì gặp tai biến nặng như chảy máu dạ dày phải vào viện cấp cứu.

Để sử dụng an toàn thuốc này cần lưu ý, không dùng diclofenac trong các trường hợp sau: người bệnh bị loét dạ dày tiến triển, người bị hen hay co thắt phế quản, chảy máu, bệnh tim mạch, suy thận nặng hoặc suy gan nặng, người quá mẫn với diclofenac, aspirin hay các thuốc chống viêm không steroid khác. Người bệnh cần đi khám mắt khi có rối loạn thị giác trong quá trình dùng diclofenac.

Đối với người mang thai, chỉ dùng diclofenac khi thật cần thiết và khi người bệnh không dùng được các thuốc chống viêm thuộc các nhóm khác và chỉ dùng với liều cần thiết thấp nhất. Nhưng không nên dùng thuốc trong ba tháng cuối thai kỳ (vì nguy cơ ức chế tử cung co bóp và làm ống động mạch đóng sớm, gây tăng áp lực tiểu tuần hoàn không hồi phục, suy thận ở thai nhi). Đối với người định mang thai không nên dùng bất kỳ thuốc nào có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, kể cả diclofenac, vì ức chế phôi bào làm tổ.

Dược sĩ Hoàng Thủy

Dấu hiệu và cách trị viêm khớp tự phát ở trẻ

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới đau khớp trẻ em như đau mỏi xương khớp tuổi phát triển, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương..., cho đến những bệnh khớp mạn tính do một số rối loạn miễn dịch hoặc giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu cấp. Một trong những bệnh khớp mạn tính thường gặp ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát.

Bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em thuộc nhóm bệnh tự miễn, là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, bệnh nhân bị bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ em trước khi đến Bệnh viện Nhi đã đi khám, chữa hàng năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện bệnh dẫn tới bệnh tiến triển nặng, biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác.

Các triệu chứng của viêm khớp tự phát
 Sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường. Trẻ có thể bị nổi ban đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều khớp như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân...

Dấu hiệu và cách trị viêm khớp tự phát ở trẻ 1
Khớp bàn tay bị viêm trong bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em.

Lời khuyên của thầy thuốc
Bệnh khớp tự phát ở trẻ em có khả năng gây tàn phế. Vì vậy khi thấy trẻ có những biểu hiện viêm khớp trên 6 tuần, sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau liều thông thường cần phải đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tránh biến chứng teo cơ thậm chí tàn phế.

Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, khớp háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ nóng nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi...

Điều trị viêm khớp tự phát thế nào?
Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp, tối ưu hóa các vận động khớp nhằm đạt tới chức năng khớp bình thường cho bệnh nhân. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc...

Biện pháp không dùng thuốc (vật lý tri liệu)
Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp... Tuy nhiên, trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.
Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.
 Biện pháp dùng thuốc bao gồm thuốc giảm đau thông thường, thuốc chống viêm giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản tức thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm làm giảm, khống chế quá trình viêm khớp.
Do đặc thù bệnh khởi phát ở tuổi trẻ em, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình.

BS. Trần Quang Nhật

Lời cảm ơn CERY của chị Tuyết - Chủ quán căn tin


08/11/2013

Cô Giáo Huỳnh Thị Quý và thảo dược OVATA


Ổn định đường huyết theo cách tự nhiên bằng thảo dược Methi NASULIN

Đái tháo đường (tiểu đường) là một trong những căn bệnh phổ biến và nguy hiểm. Đây là một bệnh rối loạn chuyển hóa chất đường trong cơ thể xảy ra khi cơ thể không thể sản xuất đủ hoặc không sử dụng hiệu quả insuslin.

Theo kết quả nghiên cứu năm 2012 của Viện Đái tháo đường và Rối loạn chuyển hóa,  Trường Đại học Y Hà Nội, số lượng người mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam chiếm 5,7% dân số. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tỷ lệ người bệnh chưa được phát hiện cao gấp 2 lần con số trên.

Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường

- Khát nước nhiều: Do cơ thể cần nhiều nước để làm loãng nồng độ đường trong máu đang cao trở về mức bình thường và để bù vào lượng nước bị mất do tiểu nhiều.

- Đi tiểu nhiều:

- Đi tiểu nhiều: một cách giúp cơ thể thoát khỏi tình trạng dư thừa đường là thải đường ra ngoài qua nước tiểu. Hiện tượng này sẽ làm cơ thể bị thiếu nước do khi thải đường ra ngoài cơ thể sẽ mang theo một lượng lớn nước cũng đi ra theo chung với nó.

- Ăn nhiều: do cơ thể tiết ra nhiều insulin (kích thích cảm giác đói). Do đó, nồng độ insulin cao trong cơ thể sẽ dẫn đến tăng cảm giác đói và muốn ăn.


- Sụt cân không rõ nguyên nhân:

- Sụt cân không rõ nguyên nhân: Bệnh nhân bị đái tháo đường không thể xử lý được calori trong thức ăn dẫn đến giảm cân ngay cả khi ăn đủ hay thậm chí là ăn nhiều. Mất đường và nước qua nước tiểu cũng là một tác nhân góp phần vào triệu chứng giảm cân này.

- Bệnh nhân đái tháo đường type-2

- Bệnh nhân đái tháo đường type-2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 1-2 năm (chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này).

Nguyên nhân

- Đái tháo đường type-1 - insulin thiếu hoàn toàn: nguyên nhân do di truyền, do viêm hay tổn thương tuyến tụy nên không tạo ra insulin. Người mắc bệnh đái tháo đường type-1 chiếm khoảng 3-5% và thường gặp ở người trẻ tuổi.
 
- Đái tháo đường type-2 – tụy có sản sinh ra insulin nhưng không đủ hoặc không phát huy tác dụng. Phần lớn các nguyên nhân là sử dụng thực phẩm dư thừa chất béo bão hòa, thừa cân và stress. Khoảng 95% người mắc bệnh đái tháo đường type-2.

- Đái tháo đường thứ cấp (tỉ lệ rất nhỏ) do phẫu thuật tuyến tụy, dùng hóa chất.

Biến chứng nguy hiểm của đái tháo đường

N

Một số biến chứng nguy hiểm thường thấy của bệnh đái tháo đường nếu phát hiện quá muộn là tổn thương thần kinh ngoại vi (có dễ dẫn đến nhiễm trùng, hoại tử, gây loét và có thể phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng), tổn thương thận (suy thận, liệt chức năng lọc và bài tiết), biến chứng mắt (các bệnh võng mạc), tổn thương mạch máu và tim (cao huyết áp, xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não gây bại liệt hoặc tử vong), nhiễm trùng hoặc phải tháo khớp (tay, chân)...

Phòng và trị bệnh bằng Thảo dược Methi Ấn Độ NASULIN

Bác sĩ Ngô Thế Phi, Trưởng khoa nội tiết Bệnh viện Thủ Đức, cho biết: "Để phòng ngừa bệnh đái tháo đường hiệu quả, bạn nên thay đổi lối sống lành mạnh như: chơi thể thao, tham gia các hoạt động giải trí để tránh stress, chế độ dinh dưỡng hợp lý...".

- Luôn theo dõi tình trạng bệnh: người bị bệnh nên có sẵn máy đo đường huyết cá nhân tại nhà để có thể tiện việc theo dõi bệnh tình. Nếu thấy có những chuyển biến bất thường thì nên đến ngay bác sỹ, không nên tự điều trị.

- Khẩu phần ăn nên nhiều chất xơ: 14g chất xơ cho mỗi 1.000 calo nạp vào cơ thể. Nên ăn ngũ cốc nguyên hạt.

- Cắt giảm chất béo và calo trong khẩu phần ăn hàng ngày. Duy trì chế độ ăn ít cacbon hydrat và giàu protein để có sức bền với mọi hoạt động.

- Tăng cường rèn luyện thân thể thể như đi bộ ít nhất 2 giờ 30 phút mỗi tuần.

- Giảm trọng lượng cơ thể thừa: chỉ cần giảm ở mức vừa phải (7%) là có thể tránh nguy cơ đái tháo đường.

- Sử dụng một số thảo dược tự nhiên để phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả, không ảnh hưởng đến sức khỏe.

Bệnh đái tháo đường hiện chưa có thuốc chữa trị hoàn toàn. Các loại thuốc Đông, Tây y, thảo dược giúp hỗ trợ điều trị nhằm ổn định lượng đường huyết của máu.

Thảo dược Methi Ấn Độ NASULIN đã được biết đến và sử dụng hơn 3.500 năm qua như một "insulin tự nhiên" tại các nước Ấn Độ, Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập,… Đây là thảo dược có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, được công nhận bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) là tốt đối với người đái tháo đường và cholesterol cao (cao mỡ máu).

Thảo dược Methi Ấn Độ NASULIN giúp giảm mức đường trong nước tiểu xuống 54%

Thảo dược Methi Ấn Độ NASULIN giúp giảm mức đường trong nước tiểu xuống 54%

Sự hiện diện của chất xơ tự nhiên galactomannan (một chất mới được sử dụng trong việc ăn kiêng và giảm cân) trong NASULIN giúp làm giảm tốc độ hấp thụ đường vào máu.

Các acid amin (4-hydroxyisoleucin) trong Thảo dược Methi Ấn Độ NASULIN có tác động tích cực đến việc sản xuất insulin nội sinh một cách tự nhiên, nhờ đó có tác dụng ổn định đường trong máu.

NASULIN cũng làm giảm bốn triệu chứng của bệnh đái tháo đường như khát nước, tiểu nhiều, mệt mỏi và sụt cân.

Độc giả có nhu cầu tư vấn về bệnh đái tháo đường, vui lòng liên hệ:

Bác sĩ tư vấn: (08)54123 009 – 0968 456 454

 http://thaoduocthegioi.com/


06/11/2013

7 phương pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

Xu hướng bệnh tật đang thay đổi. Nếu trước đây bệnh cấp tính lây (truyền nhiễm) như lao như sốt rét, dịch hạch, nhiễm khuẩn hay gặp thì ngày nay các bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường đường, gout, khớp, tiêu hóa, ung thư… ngày càng gia tăng.

Theo chuyên gia Hồ Lê Ái Xuân – Trung Tâm Tầm Soát Sức Khỏe HCS, bệnh mạn tính cần điều trị lâu dài, uống thuốc thường xuyên và thay đổi lối sống, hạn chế tối đa những biến chứng xảy ra. Để phòng và điều trị bệnh mãn tính, chúng ta cần tham khảo 7 cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe dưới đây:

1. Trang bị kiến thức
Với người bệnh, việc tự trang bị kiến thức sẽ giúp họ tự chăm sóc bản thân; hiểu biết về bệnh sẽ giúp họ tự tin hơn, kiểm soát và thích ứng tốt hơn với căn bệnh của mình.
Các kiến thức về sức khỏe có thể được cập nhật từ:
- Kinh nghiệm của những người khỏe mạnh, người đang điều trị bệnh.
- Sách, phương tiện truyền thông (báo, đài, internet, truyền hình).
- Bác sĩ, chuyên gia y tế.
- Tham gia các chương trình tư vấn sức khỏe.

2. Xây dựng chế độ ăn khoa học
Cơ thể chúng ta cần dung nạp năng lượng hàng ngày từ thức ăn. Do đó, nếu không có kiến thức về thực phẩm, rất dễ rơi vào tình huống: “Ăn thì thừa, không ăn thì thiếu”.

7 phương pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe 1
Tháp dinh dưỡng

Để xây dựng chế độ ăn lành mạnh, cần:
- Kiểm soát thực phẩm: Đảm bảo thực phẩm sạch, tránh nhiễm khuẩn, chất bảo quản, tăng trọng, chất phụ gia,…
- Hạn chế bia rượu, chất kích thích và đồ cay nóng.
- Cách chế biến: Hạn chế các món nướng, chiên, xào
- Tránh dùng thực phẩm chế biến sẵn vì chứa nhiều đường, muối, chất bảo quản.
- Hạn chế sử dụng nước ngọt, nước có gaz
- Hạn chế ăn mặn, nhiều muối. Đường và muối được coi là 2 “chất trắng” có hại cho sức khỏe nếu lạm dụng
- Nên ăn theo cách của người Nhật: dùng đồ tươi sống, các loại cá
- Trái cây: Nên dùng trước bữa ăn từ 10-20 phút
- Nên dùng 1 muỗng canh trước bữa ăn 5-10 phút để kích thích hệ tiêu hóa
- Làm phong phú thực phẩm, thực đơn hàng ngày để đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng
- Không hút thuốc lá

3. Uống đủ nước
- Bổ sung nước thường xuyên, uống từ từ và từng ngụm nhỏ; không để cơ thể có cảm giác “khát” mới uống.
- Đảm bảo vệ sinh nguồn nước và dụng cụ đựng nước; uống nước đun sôi để nguội, và dùng trong vòng 1 ngày là tốt nhất.


7 phương pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe 2

- Nhiệt độ lý tưởng nhất của nước uống là từ 10-30°C; không nên uống nước quá nóng hoặc quá lạnh.
- Nên uống nước trước và sau bữa ăn từ 30 phút-1 giờ.
- Một cốc nước ấm trước khi đi ngủ sẽ có lợi cho sự tuần hoàn mạch máu; một cốc nước ấm sau khi ngủ dậy sẽ giúp thanh lọc cơ thể, tốt cho lưu thông máu và hệ tiêu hóa.
- Hạn chế tối đa các loại nước ngọt có đường và gas.

4. Vận động khoa học


7 phương pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe 3

- Chọn hình thức luyện tập phù hợp với sở thích, tuổi tác, nghề nghiệp và điều kiện sức khỏe.
- Tập vừa sức. Phải luôn cảm thấy thoải mái, khỏe khoắn với cách vận động của mình.
- Khởi động từ từ và cũng ngừng từ từ
- Phải hết sức kiên trì và đều đặn. Tốt nhất hãy dành khoảng 30 phút mỗi ngày để tập luyện.
- Lựa chọn thời gian vận động thích hợp; tuyệt đối tập luyện tránh xa bữa ăn.

5. Giảm stress
Stress là căn bệnh hiện đại mà nhiều người mắc phải. Mỗi người đều có thể chịu đựng một lượng stress nhất định, nhưng quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe. Nó có thể dẫn đến cao huyết áp, trầm cảm, thậm chí là các triệu chứng đau tim cũng như các bệnh lý khác...
Để tránh stress:
- Vận động thường xuyên, kết hợp với ngủ đủ giấc và ăn uống lành mạnh.
- Kiểm soát thời gian tốt hơn bằng cách lên lịch làm việc, sinh hoạt và giữ lịch trình đó.
- Gần gũi với môi trường thiên nhiên.
- Suy nghĩ tích cực; chấp nhận bản thân mình, không cầu toàn; dành thời gian cho bản thân để thực hiện các sở thích, nghỉ ngơi, giải trí
- Chấp nhận người khác, xây dựng mối quan hệ thân thiện xung quanh.

6. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Khi thực hiện khám sức khỏe định kỳ, các chức năng của cơ thể sẽ được kiểm tra, từ đó:
- Có thể phát hiện sớm đến 90% bệnh lý có nguy cơ tiềm ẩn. Đó là tác dụng tầm soát, giúp chúng ta được “bảo vệ từ xa”
- Được bác sĩ tư vấn những yếu tố nguy cơ mình có thể gặp, từ đó có biện pháp bảo vệ sức khỏe
- Được đưa phác đồ điều trị để can thiệp sớm, tăng khả năng khỏi bệnh lên cao. Đó là tác dụng phát hiện, xác định bệnh điều trị kịp thời, chính xác: là yếu tố quan trọng bậc nhất trong trị bênh.
- Với người khỏe mạnh, đặc biệt người trên 50 tuổi nên kiểm tra sức khỏe tổng quát ít nhất 6 tháng/lần.
- Với những người có yếu tố nguy cơ bệnh tật, nên kiểm tra và xét nghiệm thường xuyên hơn, thường là 3 tháng/lần.
- Với người bị bệnh mãn tính, việc thăm khám càng quan trọng và theo chỉ định của bác sĩ. Đó là tác dụng theo dõi điều trị, ngăn ngừa biến chứng của việc khám sức khỏe định kỳ.

7. Sử dụng dược phẩm
Khi các liệu pháp về ăn uống, vận động,… không đáp ứng được việc chữa bệnh thì cũng ta cần sử dụng công cụ mạnh hơn là dược phẩm.
Tiến bộ y học đã giúp cho việc điều trị bệnh trở nên tiện lợi và đưa ra kết quả điều trị nhanh, đặc biệt với bệnh cấp tính.
Tuy vậy, phần lớn người bệnh mạn tính phải dùng thuốc hằng ngày, đồng nghĩa với việc phải dung nạp một lượng lớn hóa chất. Với thời gian kéo dài đó là gánh nặng cho thận, gan, bao tử và xương. Hơn nữa, càng lớn tuổi, chức năng gan và thận càng suy giảm cộng thêm việc phải phải sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau,… nên nguy cơ bị tác dụng phụ sẽ càng cao.

7 phương pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe 4

Dùng thảo dược 100% nguyên chất điều trị bệnh mãn tính được xem là một phương pháp hiệu quả và an toàn, đã được áp dụng hàng ngàn năm nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Chi phí điều trị bệnh mãn tính bằng thảo dược tự nhiên rất thấp nhưng đạt hiệu quả cao.


Độc giả cần tư vấn thêm về cách chăm sóc sức khỏe, vui lòng liên hệ:

BS. Tư vấn:  (08) 54123 009 – 0968 456 454 

http://thaoduocthegioi.com/